Chống Đỡ Gánh Nặng Viêm Gan: Hướng Tới Mục Tiêu 2030
admin
2026-08-01 · schedule 8 phút đọc
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn y khoa. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia y tế trước khi áp dụng.
Việt Nam đang đối mặt với một thách thức lớn trong việc kiểm soát viêm gan virus, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực phòng ngừa và điều trị. Dù đã có những tiến bộ trong việc mở rộng chương trình tiêm chủng và điều trị, tỷ lệ nhiễm viêm gan B và C của đất nước vẫn ở mức cao, đòi hỏi cần có các bước đi mạnh mẽ hơn trong việc phát hiện sớm và chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Ưu tiên Tiêm Chủng Trong Cuộc Chiến Chống Viêm Gan B
Theo thông tin từ Cục Phòng bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng đang mang lại nhiều kết quả khả quan. Hầu hết các tỉnh thành đã đạt mục tiêu tiêm vaccine viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ sau khi sinh và đảm bảo tỷ lệ trẻ em dưới một tuổi được tiêm đủ ba liều vaccine. Đây là biện pháp chủ chốt trong việc ngăn ngừa lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con, một trong những con đường phổ biến nhất ở Việt Nam. Tìm Hiểu Thời Gian Bổ Sung Omega-3,6,9: Những Điều Cần Biết Hướng Dẫn Giảm Thiểu Nguy Cơ Nhiễm Độc Thủy Ngân Từ Thực…
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thúy Vân từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết, số ca nhiễm mới viêm gan B trên toàn cầu đã giảm 32% trong khoảng thời gian từ 2015 đến 2024, chủ yếu nhờ vào những nỗ lực mở rộng tiêm chủng. Thế nhưng, tỷ lệ tiêm chủng ở nhiều nước vẫn chưa đạt mức cần thiết để thực hiện mục tiêu loại trừ viêm gan vào năm 2030.

TS. Nguyễn Thị Thúy Vân, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Thực Trạng Về Gánh Nặng Bệnh Tật Tại Việt Nam
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, viêm gan virus vẫn đứng đầu trong danh sách các nguyên nhân gây bệnh xơ gan, ung thư gan và tử vong ở Việt Nam. Số liệu ước tính cho thấy, hiện có khoảng 6,5 triệu người đang sống chung với viêm gan B và gần 1 triệu người với viêm gan C. Mỗi năm, có khoảng 80,000 trường hợp mắc xơ gan và ung thư gan, cùng với khoảng 40,000 ca tử vong liên quan đến viêm gan virus. Ung thư gan hiện là loại ung thư phổ biến thứ hai tại nước ta.
Trên bình diện toàn cầu, WHO chỉ ra rằng Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia có tỷ lệ mắc viêm gan B mạn tính và viêm gan C cao nhất thế giới. Thông tin đáng lưu ý là số ca tử vong do viêm gan B đã vượt qua số ca tử vong do HIV và vẫn có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.
Những Rào Cản Trong Việc Sàng Lọc và Chẩn Đoán
Tiến sĩ Đoàn Thị Thùy Linh từ Cục Phòng bệnh nhấn mạnh rằng, hiện vẫn tồn tại khoảng trống trong việc phát hiện và quản lý người bệnh. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc viêm gan B mới đạt khoảng 53% vào năm 2025, trong khi mục tiêu là ít nhất 70%. Một trong những nguyên nhân chính là chi phí xét nghiệm chưa được bảo hiểm y tế chi trả, dẫn đến nhiều phụ nữ chỉ thực hiện xét nghiệm khi nhập viện để sinh, làm giảm hiệu quả của biện pháp phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con.
Thêm vào đó, năng lực xét nghiệm và điều trị hiện vẫn chỉ tập trung tại các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương. Các cơ sở y tế cấp cơ sở vẫn còn hạn chế trong khả năng chẩn đoán. Chi phí liên quan đến lấy mẫu xét nghiệm và thuốc điều trị cũng là những rào cản lớn cho nhiều bệnh nhân.

TS. Đoàn Thị Thùy Linh, Cục Phòng bệnh. Ảnh PV.
WHO đã chỉ ra rằng, việc thiếu sót trong chẩn đoán và điều trị là một thách thức lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Tính đến năm 2024, chỉ có khoảng 27% người nhiễm viêm gan B được chẩn đoán và 4,3% được điều trị. Đối với viêm gan C, tỷ lệ được chẩn đoán đạt 36% và tỷ lệ điều trị chỉ đạt 20%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu loại trừ bệnh vào năm 2030.
Kế Hoạch Phòng Chống Viêm Gan Virus Giai Đoạn 2026-2030
Nhìn từ những thành tựu và thách thức trong giai đoạn 2021-2025, các chuyên gia nhận định rằng cần đẩy mạnh kế hoạch phòng chống viêm gan virus giai đoạn 2026-2030. Điều này bao gồm tăng cường đầu tư cho y tế cơ sở, mở rộng thực hiện các xét nghiệm và điều trị, đồng thời cải thiện chính sách bảo hiểm nhằm hỗ trợ người bệnh về mặt thuốc và xét nghiệm. Quan trọng không kém, cần xây dựng một hệ thống dữ liệu liên thông giữa các hoạt động tiêm chủng, xét nghiệm và điều trị.
Các giải pháp truyền thông sức khỏe, ứng dụng công nghệ, giảm kỳ thị đối với người mắc bệnh cũng được xác định là rất cần thiết để nâng cao khả năng phát hiện sớm và tăng cường tiếp cận điều trị, từ đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu loại trừ viêm gan virus khỏi danh sách các mối đe dọa sức khỏe cộng đồng vào năm 2030.
Mời bạn đọc tham khảo thêm:
Cần làm gì để triển khai Kế hoạch điều trị viêm gan virus C ở người nhiễm HIV?